BILL OF LADING (B/L) – VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN || PHÂN BIỆT ORIGINAL B/L, SURRENDERED B/L VÀ SEAWAY B/L

BILL OF LADING (B/L) – VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN || PHÂN BIỆT ORIGINAL B/L, SURRENDERED B/L VÀ SEAWAY B/L

12May

Anh/Chị đã từng tham gia vào hoạt động Xuất nhập khẩu, chắc hẳn Anh/Chị sẽ không còn xa lạ gì với Bill of lading (B/L) – vận đơn trong vận tải đường biển đúng không ạ? Hiểu đơn giản thì B/L được xem là một hợp đồng chứng nhận cho việc nhận hàng hóa mà người vận chuyển xác nhận cho người gửi hàng và là chứng từ để nhận hàng tại cảng đích. Bài viết này sẽ giúp Anh/Chị hiểu và dễ dàng phân biệt được 3 loại B/L chính trong vận tải đường biển.

Có 3 lý do quan trọng bắt buộc cần có B/L và cũng chính là chức năng nó:

– Như đã trình bày ở trên thì B/L giống như 1 bản hợp đồng chuyên chở

– B/L được xem là bằng chứng xác nhận, người chở hàng đã nhận chuyên chở lô hàng của anh/chị theo thông tin trên bill

– B/L là giấy tờ có giá trị dùng để thanh toán, định đoạt tại ngân hàng ->minh chứng cho quyền sở hữu hàng hóa.

Original Bill

– Bill gốc: là Bill do hãng tàu hoặc forwader phát hành. Trên Bill Phải có chữ ký bằng tay của người phát hành vận đơn, đây cũng là điều quan trọng nhất để biết đó là vận đơn gốc hay không. Thông thường vận đơn gốc được in sẵn hoặc đóng dấu chữ “Original” lên mặt trước của vận đơn.

– Mặt sau vận đơn bao giờ cũng có in các điều kiện và các điều khoản của vận đơn (điều khoản của hợp đồng vận chuyển giữa người gửi hàng và người vận tải, theo luật pháp, công ước quốc tế).

– 1 bộ vận đơn sẽ bao gồm 03 bản Original. Số lượng bản gốc cũng được thể hiện trên Bill, ở ô “No. of Original Bill of Lading”. Các bản này giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung nhưng cũng có nhiều hãng tàu/forwarder muốn phân biệt một cách rõ ràng hơn học có thể in vào vận đơn các chữ như ” First Original”, “Second Original” và ” Third Original”, trong khi đó một số hãng khác thì lại điền là ” Original “, ” Duplicate ” và sau đó là “Triplicate” tương tự với tiếng Việt là ” Vận đơn bản gốc 1″. “Vận đơn bảng gốc 2” và cuối cùng là “Vận đơn bảng gốc 3” và tất cả đều có giá trị pháp lý như nhau.

– Quy trình phát hành Original Bill: Người gửi hàng giao hàng cho hãng tàu -> Hãng tàu sẽ phát hành bộ Original Bill cho người gửi hàng -> Người gửi sẽ gửi bộ Original Bill kèm BCT theo đường hàng không/ chuyển phát nhanh cho người nhận -> Khi hàng cập cảng, người nhận sẽ cầm bộ vận đơn gốc lên văn phòng của hãng tàu ở nước nhập để lấy lệnh giao hàng (bắt buộc phải là vận đơn gốc, bản copy cũng k được) và tiến hành các bước thông quan tiếp theo.

– Ưu điểm: Người ta thường sử dụng loại Bill này khi người mua và bán lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế là LC; Hoặc khi người mua và bán không tin tưởng lẫn nhau.

– Nhược điểm:

+Tốn kém & mất thời gian

+Khả năng có thể phát sinh những chi phí không mong muốn như phí DEM/DET hoặc Storage –> phí lưu bãi tại cảng đến.

+Rủi ro khi bộ vận gốc bị thất lạc

Surrender Bill

Để khắc phục nhược điểm của Original Bill thì ra đời loại Surrender Bill. Nó y hệt như bill gốc bình thường nhưng có thêm dấu SURRENDER và không có dấu ORIGINAL trên mặt trước của Vận đơn.

– Khi người gửi yêu cầu Surrendered B/L, tức là họ đã gửi yêu cầu đến hãng tàu hoặc Fowarder để yêu cầu trả hàng (release cargo) cho người nhận mà không cần B/L gốc. Trong trường hợp này, bill gốc sẽ được thu hồi đối với trường hợp đã phát hành Bill gốc (nghĩa là hãng tàu phải thu lại và hủy Bill gốc rồi mới in bộ Bill mới có dấu surrender) và hãng tàu/forwarder sẽ làm một điện giao hàng là Telex Release yêu cầu văn phòng/đại lý của họ ở cảng đến trả hàng cho người nhận.

– Với hình thức này thì rất nhanh gọn, thuận tiện, thủ tục nhanh, bản email/fax cũng nhận được hàng. Người nào có surrender bill coi như người đó có quyền nhận hàng hóa. Vì vậy chỉ áp dụng khi thật sự cần hàng gấp, bên bán và bên mua thực sự tin tưởng nhau.

– Tuy nhiên lại có những nhược điểm:

+ Sử dụng surrender bill thì sẽ mất thêm chi phí telex release thường thì từ $35-$40/ Bill

+ Tuy nhiên, đối với người nhập khẩu thì khi sử dụng loại bill này thường là phải áp dụng đối với những đối tác đã quen thuộc vì có thể gây rủi ro khi đã thanh toán tiền hàng nhưng vẫn không nhận được điện giao hàng.

– Lưu ý cho người XK khi sử dụng Surrendered B/L: Trước khi thả hàng, người XK phải kiểm tra việc thanh toán của người NK. Ngược lại, người NK phải tiến hành thanh toán đúng hẹn cho người XK, phòng trường hợp hàng đến rồi, mà việc thanh toán chưa hoàn thành, người XK không thả hàng, người NK không lấy được hàng, phát sinh phí DEM, Storage…

Seaway Bill

Để khắc phục toàn bộ các nhược điểm trong vấn đề giao hàng ở 2 loại trên thì có 1 loại Bill đơn giản hơn, đó là Seaway Bill. Có thể nói, Seaway Bill là một “vận đơn” nhưng không có chức năng là chứng từ sở hữu hàng hóa như 2 loại trên, và thường áp dụng khi hai bên tin tưởng nhau, công ty mẹ – con; công ty làm ăn lâu năm, quen thuộc,..

– Ưu điểm: Sự tiện lợi khi sử dụng seaway bill trong vận tải giảm được chi phí cho các bên: phí surrenderred B/L, telex release, chi phí gửi B/L gốc cho người mua hàng,… thủ tục lấy hàng nhanh gọn.

– Tuy nhiên khi lô hàng sử dụng seaway bill sẽ có những bất lợi trong việc kinh doanh như sau:

+ Nhà xuất khẩu thường sợ bị rủi ro về hàng hóa, ví dụ khi người nhận đã nhận được hàng nhưng không chịu thanh toán tiền hàng.

+ Không thể chuyển nhượng lô hàng vì không có chức năng sở hữu hàng hóa

***Có một điều cần lưu ý:

– Nếu ban đầu dùng B/L gốc. Sau đó muốn nhận hàng nhanh thì chỉ có thể yêu cầu Surrendered B/L gốc đó. Không xuất hiện Sea Way bill.

– Nếu ban đầu đã quyết định không dùng B/L gốc, thì có thể chọn dùng giữa B/L Surrendered B/L hoặc Sea Way bill.

 

168
Quốc gia có Agent
3000
Oversea Agent
312
Khách hàng